Tin tức >> Nhịn ăn
Ngày đăng:01 Tháng Năm 2013

 

Nhịn ăn như thế nào để có lợi?

e

Những người béo có thể nhịn ăn.

Nhịn ăn được thực hành trong một số tôn giáo. Những người theo đạo Hồi có tháng Ramadan. Trong tháng đó, người lớn phải nhịn ăn từ lúc mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn. Theo Hồi giáo, nhịn ăn là để giáo dục bản thân coi trọng những thực phẩm mình có, cảm thông và chia sẻ với những người nghèo đói. Đây cũng được coi là phương cách rèn luyện nhân cách và ý chí. Người tu hành, luyện tập Yoga thường kết hợp nhịn ăn, ăn chay với tập luyện để tăng khả năng tập trung và tăng cường sức khỏe.

Nhịn ăn là biện pháp giúp giảm cân nặng, giảm khối mỡ trong cơ thể và là quá trình giải độc, đặc biệt với những chất độc hòa tan trong tổ chức mỡ. Nó có thể làm giảm huyết áp mà không cần dùng thuốc. Huyết áp có thể được duy trì ở mức lý tưởng trong một thời gian dài sau đó nếu người bệnh có chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh.

Nhịn ăn làm cho hệ tiêu hóa được nghỉ ngơi. Khi ăn trở lại thì việc tiêu hóa, hấp thu và bài tiết được phục hồi hoàn toàn, vị giác được tăng cường. Nhịn ăn có thể làm giảm viêm khớp mạn tính và một số bệnh dị ứng; làm mất hoặc giảm sự thèm muốn và dẫn tới từ bỏ một số thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu bia, đôi khi cả ma túy. Có một số người còn nhận thấy là nhịn ăn làm da sáng hơn, làm giảm phát ban ở mặt...

Khi nhịn ăn, người ta có thể thấy đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, cồn cào, mất hoặc giảm nhu động ruột, khô da, tăng tiết ở niêm mạc, đau mỏi cơ... Những triệu chứng này sẽ giảm cùng quá trình tập luyện nhịn ăn và hết khi ăn trở lại.
 
Tuy nhiên, nhịn ăn không thể coi là biện pháp phòng và điều trị bách bệnh. Ung thư là một ví dụ điển hình. Một số người lầm tưởng rằng việc nhịn ăn thì làm cho khối u không có chất dinh dưỡng nên không phát triển được. Điều này không đúng vì khối u phát triển rất mạnh, cho dù thiếu chất dinh dưỡng từ thực phẩm, nó vẫn giành lấy chất dinh dưỡng của các tế bào khác trong cơ thể. Hơn thế nữa, việc quá tin tưởng vào cách điều trị này có thể khiến người bệnh đến cơ sở y tế chậm, ảnh hưởng tới kết quả điều trị và tiên lượng bệnh.

Vì vậy, cần thận trọng khi nhịn ăn. Trước khi áp dụng chế độ này, cần đến khám và hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng xem bạn có cần và có thể nhịn không. Nếu có, bạn sẽ nhận được những hướng dẫn và lưu ý khi áp dụng. Thời gian nhịn ăn không nên quá dài. Mới đầu, nên tập dần dần từ nhịn một bữa đến nhịn 1-2 ngày và lâu hơn. Thời gian nhịn cũng tùy thuộc vào đặc điểm cá thể và mục đích chữa bệnh.

Không áp dụng nhịn ăn ở những người suy kiệt, suy dinh dưỡng, thiếu máu, ung thư tiến triển, lao, AIDS, người mắc bệnh tiểu đường type 1 (nhóm phụ thuộc insulin), bệnh gan, thận, hạ đường huyết và những trường hợp mắc bệnh cấp tính... Cũng không được áp dụng chế độ này cho trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú, những người đang dùng thuốc.

Người nhịn ăn phải được nghỉ ngơi hoặc chỉ tập luyện tĩnh tại. Nếu vẫn tham gia học tập, lao động thì chẳng những ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng mà còn tăng nguy cơ tai nạn.

Tóm lại, nhịn ăn chủ yếu tác động tới một số bệnh mạn tính, đặc biệt là những bệnh liên quan tới thừa cân và béo phì, tăng huyết áp, tim mạch, xương khớp. Nó cũng góp phần làm thay đổi một số thói quen xấu ảnh hưởng tới sức khỏe. Tuy nhiên, để có được sức khỏe tối ưu và phòng chống bệnh tật liên quan tới thực phẩm, mỗi người cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, an toàn, vệ sinh; kết hợp với tập luyện thể dục thể thao và duy trì lối sống lành mạnh.

ThS Nguyễn Thanh TuấnSức Khoẻ & Đời Sốn
g